Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và biến động địa chính trị, logistics không còn là hoạt động hậu cần đơn thuần mà đang trở thành một trong những trụ cột quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đặc biệt, khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế, yêu cầu đặt ra không chỉ là vận chuyển hàng hóa nhanh hơn mà cần xây dựng hệ sinh thái logistics hiện đại, liên thông và có khả năng tổ chức chuỗi cung ứng ở quy mô khu vực.
在全球贸易因数字化转型、绿色转型以及地缘政治变动而发生剧烈重塑的背景下,物流已不再是单纯的后勤保障活动,而是正在成为决定经济体竞争力的核心支柱之一。特别是随着经济日益深植于国际供应链之中,当前的要求不仅是加快货物流通速度,而需要构建起一个现代、互联且具备区域级供应链组织能力的物流生态系统。
Nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Ảnh: Thông tấn xã Việt Nam.提升越南在全球供应链中的地位。图自越通社
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và biến động địa chính trị, logistics không còn là hoạt động hậu cần đơn thuần mà đang trở thành một trong những trụ cột quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đặc biệt, khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế, yêu cầu đặt ra không chỉ là vận chuyển hàng hóa nhanh hơn mà cần xây dựng hệ sinh thái logistics hiện đại, liên thông và có khả năng tổ chức chuỗi cung ứng ở quy mô khu vực.
越通社河内——在全球贸易因数字化转型、绿色转型以及地缘政治变动而发生剧烈重塑的背景下,物流已不再是单纯的后勤保障活动,而是正在成为决定经济体竞争力的核心支柱之一。特别是随着经济日益深植于国际供应链之中,当前的要求不仅是加快货物流通速度,而需要构建起一个现代、互联且具备区域级供应链组织能力的物流生态系统。
Chính vì vậy, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050 được xem là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển. Lần đầu tiên, logistics được xác định không chỉ là ngành dịch vụ hỗ trợ mà là cấu phần chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia.
越南政府总理颁布《2025—2035年越南物流服务业发展战略暨2050年愿景》,被视为发展思维上的重要转变。越南不仅将物流业确定为配套服务行业,还视其为国家竞争力的战略性组成部分。
Nhận định về vấn đề này, ông Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, điểm nổi bật của Chiến lược phát triển logistics là đặt ra các mục tiêu rất cụ thể như tăng trưởng ngành đạt 12-15%/năm, giảm chi phí logistics xuống còn 12-15% tổng ngân sách quốc nội (GDP), đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng ít nhất 5 trung tâm logistics hiện đại tầm quốc tế.
对于这一问题,工贸部进出口局高级专员裴伯严评价称,该物流发展战略的突出亮点在于提出了非常具体的目标,即行业增长率达到年均12-15%。物流成本降幅占国内生产总值的比重降至12-15%。核心任务是加大数字化转型力度,并建设至少 5个 具备国际水准的现代物流中心。
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh, logistics hiện không chỉ là hoạt động vận chuyển mà đã trở thành thước đo năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Việc tăng cường liên kết để hình thành chuỗi cung ứng toàn trình là yêu cầu cấp thiết nhằm giúp hàng hóa Việt Nam mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nhất là khi Việt Nam đang nổi lên như một trung tâm sản xuất mới của châu Á. Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế vị trí địa kinh tế quan trọng, logistics Việt Nam vẫn còn nhiều điểm nghẽn như chi phí cao, hạ tầng kết nối thiếu đồng bộ giữa đường bộ, đường sắt, cảng biển, cảng cạn và kho bãi, trong khi liên kết vùng còn chưa thực sự hiệu quả.
工贸部副部长阮生日新强调,物流现已不仅是运输活动,更成为了衡量经济体竞争力的标尺。加强联通以形成全流程供应链是当务之急,旨在助力越南商品扩大市场并更深入融入全球供应链。然而,除了重要的地缘经济位置优势外,越南物流仍出现诸多瓶颈,如成本高企,公路、铁路、海港、内陆港(ICD)及仓储之间的基础设施联通缺乏同步性。此外,区域联动也尚未真正发挥实效。
Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, đột phá lớn nhất của hệ thống trung tâm logistics là tạo ra điểm hội tụ giữa hạ tầng, thị trường, dịch vụ, dữ liệu và chuỗi cung ứng. Trọng tâm hiện nay là hình thành các trung tâm logistics đầu mối cấp vùng và liên vùng gắn với cảng biển, cảng cạn, cửa khẩu, đường sắt, cao tốc và thương mại điện tử. Điều này giúp tránh đầu tư dàn trải, đồng thời hình thành các trung tâm đầu mối logistics đủ lớn để kết nối chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
工贸部国内市场管理与发展局副局长裴阮英俊认为,物流中心系统最大的突破在于打造了基础设施、市场、服务、数据与供应链的交汇点。当前的重点是形成与海港、内陆港(ICD)、口岸、铁路、高速公路及电子商务相挂钩的区域级和跨区域级枢纽物流中心。这不仅有助于避免分散投资,还能形成规模足够庞大的物流枢纽中心,以同区域乃至全球的供应链对接。
Nhiều doanh nghiệp cho rằng, chiến lược logistics mới đang mở ra những cơ hội lớn để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế. Ở góc độ địa phương, nhiều trung tâm kinh tế lớn đang chủ động định vị vai trò trong mạng lưới logistics quốc gia. Sự chuyển động này cho thấy logistics đang trở thành cuộc đua chiến lược nhằm thu hút dòng hàng hóa, đầu tư và các chuỗi sản xuất mới. Tuy nhiên, nếu thiếu liên kết vùng, nguy cơ đầu tư dàn trải và kém hiệu quả sẽ rất lớn.
诸多企业明确指出,新的物流战略正为本土企业更深度地融入国际供应链创造重大机遇。许多地方正主动在国家物流网络中进行角色定位。这一动向表明,物流正成为一场旨在吸引货物流、投资流及新生产链的战略竞逐。然而,如果缺乏区域联动,将面临巨大的分散投资和低效风险。
Có thể thấy, logistics đang đứng trước cơ hội trở thành cực tăng trưởng mới của kinh tế Việt Nam. Nếu thúc đẩy đồng bộ thể chế, hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và liên kết vùng, Việt Nam không chỉ giảm chi phí logistics mà còn từ điểm trung chuyển hàng hóa thành trung tâm tổ chức chuỗi cung ứng của khu vực. Hơn nữa, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái định hình, đây là cơ hội để Việt Nam nâng vị thế từ quốc gia gia công lên trung tâm kết nối sản xuất, thương mại và logistics của ASEAN; qua đó giúp hàng hóa đi xa, nhanh và bền vững hơn trên thị trường quốc tế./.
不难看出,物流正迎来成为越南经济新增长极的机遇。如果能同步推进体制、基础设施、数字化转型、绿色转型以及区域联动,越南不仅能降低物流成本,还能从货物的转运点蜕变为区域供应链的组织中心。此外,在全球供应链重塑的背景下,这也是越南将自身地位从“代加工国”提升为东盟生产、贸易与物流连接中心的关键契机;从而助力越南商品在国际市场上走得更远、更快且更具可持续性。(完)
越通社

