Phát triển kinh tế biển trở thành động lực chiến lược
推动海洋经济发展成为战略性动力

Thứ Tue,
28/07/2026
Đăng bởi Vienduong

Tỉnh Quảng Ninh và khát vọng 'công xưởng' giữa đại dương

Trong sứ mệnh đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển trong kỷ nguyên mới, biển không còn chỉ là nơi khai thác tài nguyên hay phát triển một số ngành kinh tế riêng lẻ, mà được xác định là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, nơi hội tụ các lợi ích phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học-công nghệ và hội nhập quốc tế

建设靠海致富的海洋强国,是越南在新纪元的重要使命。海洋已不仅是资源开发空间,更是国家战略发展空间,是发展利益、国防安全、科学技术和国际合作等国家利益的重要汇聚点。

Định hướng này yêu cầu chuyển mạnh sang mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất và tích hợp, khắc phục triệt để tình trạng phân mảnh, cắt khúc giữa các ngành, địa phương ven biển; coi biển là không gian sinh tồn, phát triển kinh tế mới để kết nối các hành lang kinh tế trong nước và quốc tế, tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước. 

这一发展方向要求加快推进现代化、统一化、综合化海洋治理体系建设,彻底破解部门之间、沿海地区之间条块分割、各自为政的问题,把海洋视为国家生存和新经济发展的空间,加强国内外经济走廊互联互通,打造国家经济增长新动能。

Vươn ra biển lớn 

向海图强

Với lợi thế đặc thù ba mặt giáp biển cùng vị trí chiến lược tại địa đầu cực nam Tổ quốc, tỉnh Cà Mau đang hiện thực hóa khát vọng vươn lên bằng chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, hiện đại và bền vững, từng bước khẳng định vai trò là một trong những trung tâm kinh tế biển trọng điểm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Phạm Văn Mười cho biết, với bờ biển dài hơn 300km, vùng biển khai thác khoảng 120.000km² cùng hệ sinh thái biển, đảo đa dạng và phong phú, Cà Mau có những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh các ngành kinh tế biển như thủy sản, năng lượng tái tạo, cảng biển và du lịch sinh thái biển. 

凭借三面临海的独特区位优势以及地处祖国最南端门户的重要战略位置,金瓯省正积极实施全面、现代、可持续的海洋经济发展战略,逐步确立作为九龙江三角洲地区重要海洋经济中心之一的地位。金瓯省农业与环境厅副厅长范文梅表示,该省拥有300多公里海岸线、约12万平方公里海域以及丰富多样的海洋岛屿生态系统,为发展渔业、可再生能源、港口、海洋生态旅游等海洋产业提供了得天独厚的条件。

Nhiều năm qua, thủy sản luôn là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân Cà Mau. Sản lượng chế biến thủy sản trong giai đoạn 2021-2025 đạt hơn 1,49 triệu tấn, mang về kim ngạch xuất khẩu hơn 10,4 tỷ USD, khẳng định vị thế thương hiệu thủy sản Cà Mau trên thị trường quốc tế. Với diện tích nuôi tôm hơn 435.000ha, địa phương cũng là trung tâm sản xuất tôm lớn nhất cả nước.  

多年来,渔业始终是金瓯省支柱产业,为经济增长、就业和居民收入提升作出了重要贡献。2021-2025年阶段,全省水产品加工总量超过149万吨,出口额达104亿美元以上,进一步巩固了金瓯水产品在国际市场上的品牌地位。凭借43.5万多公顷的养虾面积,金瓯也是越南最大的对虾养殖基地。

Xác định phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm và lâu dài, Cà Mau đặt mục tiêu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt từ 10% trở lên; trong đó các ngành kinh tế biển đóng góp khoảng 40-45% tổng thu ngân sách. Đến năm 2045, Cà Mau hướng tới trở thành tỉnh phát triển mạnh về kinh tế biển theo hướng hiện đại, tăng trưởng xanh và bền vững. 

金瓯省将发展海洋经济作为一项战略性、重点性和长期性任务,提出到2030年,2026—2030年地区生产总值(GRDP)年均增长率达到10%以上,海洋经济对财政收入贡献率达到40%—45%的目标。到2045年,将金瓯省建设成为现代化、绿色化、可持续发展的海洋经济强省。

Cùng quyết liệt thực hiện tinh thần chuyển đổi tư duy từ “kinh tế biển” sang “không gian phát triển biển quốc gia”, tỉnh Quảng Ninh đang đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế biển theo hướng bền vững, lấy bảo vệ môi trường và sinh thái biển làm nền tảng, hướng tới trở thành một trung tâm kinh tế biển kiểu mẫu của vùng duyên hải Bắc Bộ. Theo quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, Quảng Ninh dành hơn 45.000ha cho nuôi biển với mục tiêu đến năm 2030, nuôi biển công nghiệp chiếm hơn 75% sản lượng, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình từ 8-10%/năm. 

与此同时,广宁省积极贯彻落实由海洋经济国家海洋发展空间转变的发展理念,朝着可持续方向调整海洋经济结构,以海洋生态环境保护为基础,努力建设成为北部沿海地区海洋经济发展示范省。根据2021-2030年阶段省级发展规划,广宁省规划海水养殖面积超过4.5万公顷,力争到2030年工业化海水养殖产量占比超过75%,年均增长率达到8%10%
Đến nay, tỉnh đã quy hoạch hàng nghìn ha mặt biển, đẩy nhanh triển khai các vùng nuôi tập trung tại nhiều vùng trọng điểm. Đến hết tháng 6/2026, tỉnh đã giao hơn 5.200ha mặt biển cho 57 tổ chức và hơn 800 cá nhân nuôi trồng thủy sản. Việc giao khu vực biển không chỉ hoàn thiện hành lang pháp lý mà còn tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ngân hàng, thu hút đầu tư hạ tầng quy mô lớn và thúc đẩy phát triển nuôi biển công nghiệp, hiện đại. 
截至目前,全省已规划数千公顷海域,加快多个集中养殖区的建设。截至20266月底,全省已向57家组织和800多名个人划拨5200多公顷海域用于水产养殖。海域使用权的划拨不仅进一步完善了法律制度,也有利于企业和养殖户获得银行贷款、吸引大规模基础设施投资,推动现代化、工业化海水养殖持续发展。

Tăng tốc hoàn thiện thể chế 

加快完善制度体系
Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn cho biết, mặc dù Việt Nam có hơn 3.260km bờ biển và nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển, song tiềm năng vẫn chưa được khai thác tương xứng. Một trong những nguyên nhân quan trọng là các điểm nghẽn về thể chế. 
越南工商联合会副秘书长窦英俊表示,越南拥有3260多公里海岸线,发展海洋经济优势明显,但海洋资源潜力尚未得到充分释放,其中制度瓶颈是重要制约因素之一。
Ông Bùi Tuấn Anh, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi trồng Thủy sản Việt Nam (VSA), cho rằng để thúc đẩy kinh tế biển bứt phá, các cấp chính quyền cần sớm quy hoạch tổng thể cơ sở hạ tầng cho ngành nuôi trồng thủy sản trên biển, đơn giản hóa thủ tục giao khu vực biển sử dụng lâu dài, đồng thời xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn ngành nuôi trồng thủy sản cũng như các chính sách hỗ trợ về bảo hiểm, tài chính. 
越南海水养殖协会(VSA)副秘书长裴俊英认为,为推动海洋经济实现突破,各级政府应尽快统筹规划海水养殖产业基础设施,简化长期海域使用权划拨程序,同时建立健全海水养殖行业标准体系以及保险、金融等配套政策。
Nhằm tăng tốc hoàn thiện thể chế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, Cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản cho biết, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 182/NQ-CP thông qua hồ sơ chính sách dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật, trình Quốc hội trong thời gian tới. 
为加快完善制度体系,实现将越南建设成为海洋强国的目标,越南海洋岛屿局局长阮国瓒表示,政府已颁布第182/NQ-CP号决议,通过《海洋岛屿资源和环境法(修正案)》的政策档案,为农业与环境部进一步完善法律草案并提交国会审议奠定了重要基础。

Việc kiến tạo một hành lang pháp lý minh bạch, ổn định với những ưu đãi thật sự vượt trội được kỳ vọng sẽ tạo ra làn sóng đầu tư mới, đưa kinh tế biển trở thành động lực quan trọng giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong kỷ nguyên phát triển mới. Chặng đường tám năm kể từ khi Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 chính thức có hiệu lực đã cho thấy tầm vóc của một quyết sách đúng đắn, có tầm chiến lược. Nhờ đó, nhận thức về vị trí, vai trò của biển được nâng lên. Hệ thống thể chế, chính sách từng bước đã được hoàn thiện. Nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá. Đời sống của người dân vùng biển được cải thiện. Quốc phòng, an ninh đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt được nhiều kết quả quan trọng.  

创建公开透明、稳定规范且具有明显优惠的法律走廊将有望掀起新一轮海洋投资浪潮,使海洋经济成为推动越南在新纪元实现两位数增长的重要引擎。自关于《至2030年和远期展望至2045年越南海洋经济可持续发展战略》的第36-NQ/TW号决议落实8年来,实践充分证明这一战略决策具有重要的前瞻性和战略意义。全社会对海洋地位和作用的认识不断提升,海洋制度政策体系不断完善,海洋产业保持良好发展势头,沿海居民生活水平持续改善,海洋国防、安全、外交以及海洋岛屿主权的维护等方面均取得积极成果。

Với tư duy và tầm nhìn phát triển biển trong giai đoạn mới; chuyển mạnh từ tư duy “kinh tế biển” sang tư duy “không gian phát triển biển quốc gia mạnh”, biển Việt Nam không chỉ còn là nơi khai thác tài nguyên hay phát triển một số ngành kinh tế mà đã được xác định là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, là nơi hội tụ các lợi ích phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học-công nghệ và hội nhập quốc tế. Mọi quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển biển đều phải đồng thời phục vụ yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao năng lực phòng thủ và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển. Mỗi công trình kinh tế trên biển đều phải góp phần tăng cường tiềm lực phát triển và bảo vệ Tổ quốc. 

在新时代海洋发展战略思维指导下,越南正由海洋经济思维转向国家海洋发展空间思维。越南海洋不仅是资源开发和产业发展的重要载体,而是国家战略发展空间,是发展利益、国防安全、科学技术和国际合作等国家利益的重要汇聚点。所有海洋规划、战略和发展计划都必须兼顾维护国家主权、主权权利和管辖权,维护和平稳定的环境,提升海上防御能力和国家海洋利益保障能力。每一项海洋经济工程都应成为增强国家发展实力和捍卫祖国的重要支撑。

Biển trong tầm nhìn chiến lược mới là cánh cửa mở ra thế giới, là không gian sinh tồn và phát triển của quốc gia. 

在新的战略视野下,海洋不仅是通向世界的大门,更是国家生存发展的空间。(完) 

zh.vietnamplus.vn

 

Ý kiến của bạn
您的意见
Hotline Zalo Messenger