Xuất khẩu nông lâm thuỷ sản 7 tháng đầu năm tăng trưởng tích cực với nhiều điểm sáng, song những tháng cuối năm được dự báo nhiều yếu tố thách thức lớn, đặc biệt là khi chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ bắt đầu có hiệu lực.
今年前7月,越南农林水产品出口呈现积极增长态势。但预计今年最后几个月将面临诸多重大挑战,特别是美国对等关税政策开始生效。
Dây chuyền chế biến tôm tẩm bột tại Công ty Cổ phần Thủy sản Minh Phú Hậu Giang. Ảnh tư liệu: Tuấn Anh/TTXVN明富水产品股份公司虾类加工链。图自越通社
Xuất khẩu nông lâm thuỷ sản 7 tháng đầu năm tăng trưởng tích cực với nhiều điểm sáng, song những tháng cuối năm được dự báo nhiều yếu tố thách thức lớn, đặc biệt là khi chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ bắt đầu có hiệu lực. Đây là nhận định của các chuyên gia tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thuỷ sản năm 2025 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, ngày 12/8.
越通社河内——今年前7月,越南农林水产品出口呈现积极增长态势。但预计今年最后几个月将面临诸多重大挑战,特别是美国对等关税政策开始生效。这是专家们8月12日在由越南农业与环境部在胡志明市主办的2025年促进农林水产品出口会议上提出的观点。
Ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi Trường thông tin, 7 tháng trong bối cảnh chính trị bất ổn và tăng trưởng chậm lại của kinh tế toàn cầu, xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam đã nỗ lực tăng tốc và đạt giá trị kim ngạch trên 39,7 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu nông sản đạt 21,5 tỷ USD (tăng 17%), lâm sản 10,4 tỷ USD (tăng 8,6%), thủy sản 6,1 tỷ USD (tăng 13,8%), sản phẩm chăn nuôi đạt 339,2 triệu USD (tăng 22,1%). Ba thị trường xuất khẩu lớn là Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản đều duy trì tăng trưởng, dù bối cảnh còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang châu Âu tăng mạnh 49%, đạt 4,3 tỷ USD; Trung Đông tăng 10,9%; châu Phi tăng 8,9%.
农业与环境部副部长陈青南透露,过去7个月里,在政治不稳定和全球经济增长放缓的背景下,越南农林水产品出口努力加速,出口额超397亿美元,较2024年同期增长14.7%。其中,农产品出口额达215亿美元(增长17%),林产品出口额达104亿美元(增长8.6%),水产品出口额达61亿美元(增长13.8%),畜产品出口额达3.392亿美元(增长22.1%)。美国、中国和日本三大出口市场均保持增长势头。此外,对欧洲出口大幅增长49%,达43亿美元;对中东出口增长10.9%;对非洲出口增长8.9%。
Để có được kết quả trên, các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp đã rất chủ động, nhạy bén, nỗ lực duy trì và mở rộng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực sang tất cả các thị trường, bao gồm cả sản phẩm chăn nuôi chế biến, dù kim ngạch còn thấp; tăng tốc thực hiện đơn hàng của các nhóm hàng có lợi thế như gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, cà phê, hồ tiêu, hạt điều sang những thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản. Đồng thời, chuyển hướng xuất khẩu sang các khu vực thị trường tiềm năng như châu Phi, Trung Đông đối với một số nhóm hàng đang gặp khó khăn tại thị trường truyền thống như gạo, rau quả.
为取得上述成果,各协会和企业已积极主动努力保持和扩大重点产品对所有市场的出口;加快完成向美国、欧盟、日本等传统市场出口木材及木制品、水产品、咖啡、胡椒、腰果等优势产品的订单;同时转向非洲和中东等潜在市场。
Ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, trong 7 tháng xuất khẩu gạo Việt Nam đã đạt 5,5 triệu tấn, mang về 2,8 tỷ USD. Trong bối cảnh nhiều quốc gia xuất khẩu gạo sụt giảm, xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn tăng sản lượng 3,1% dù giá giảm 19% do mặt bằng giá xuất khẩu giảm. Dự kiến cả năm 2025, xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ đạt khoảng 8,8 triệu tấn, giữ vững vị trí quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Ấn Độ.
越南粮食协会主席杜河南表示,今年前7月,越南大米出口量达550万吨,创汇28亿美元。在众多国家大米出口量下降的背景下,越南大米出口产量仍然增长了3.1%,预计2025年越南大米出口量将达880万吨,继续保持世界第二大大米出口国的地位,仅次于印度。
Trong khi đó, Hiệp hội Cà phê Ca cao cũng cho hay, niên vụ cà phê 2024 – 2025 giá cà phê đã lập đỉnh cao nhất từ trước đến nay, có thời điểm lên tới 5.850 USD/tấn. Trong 7 tháng đầu năm nay, Việt Nam đãxuất khẩu 1,1 triệu tấn cà phê, tăng 66% so cùng kỳ. Châu Âu hiện vẫn là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của nước ta với sản lượng nhập khẩu đạt 670.000 tấn, kim ngạch đạt 3,6 tỷ USD; châu Á chiếm 20,7% và châu Mỹ khoảng 4,7%.
与此同时,据越南可可咖啡协会的消息,在2024-2025咖啡季节内,咖啡价格已创历史新高,最高时达5850美元/吨。今年前7月,越南咖啡出口量达110万吨,同比增长66%。欧洲仍然是越南最大的咖啡销售市场,进口量达67万吨,进口额达36亿美元;亚洲占20.7%,美洲占4.7%。
Với ngành thuỷ sản, bà Tô Thị Tường Lan – Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam thông tin, trong 7 tháng xuất khẩu thủy sản đạt 6,22 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm 2024. Đây là kết quả rất tích cực trong bối cảnh thị trường toàn cầu liên tục biến động. Sự hồi phục mạnh mẽ của thị trường Trung Quốc, ASEAN và Nhật Bản, cùng với tín hiệu gỡ bỏ rào cản kỹ thuật từ EU đang mở ra dư địa tăng trưởng cho các dòng sản phẩm thuỷ sản chế biến sâu của Việt Nam.
另一方面,越南水产加工与出口协会副秘书长苏氏祥兰透露,今年前7月,水产品出口额达62.2亿美元,同比增长17.2%。中国、东盟和日本市场的强劲复苏,以及欧盟取消技术壁垒的信号为越南深加工水产品掀开了增长空间。
Bên cạnh thuận lợi, sản xuất – xuất khẩu nông lâm thuỷ sản Việt Nam vẫn đối mặt nhiều thách thức, nhất là thuế đối ứng từ Hoa Kỳ có hiệu lực từ tháng 8/2025. Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam đề xuất các giải pháp tháo gỡ, trong đó có việc đàm phán chi tiết để đưa thuế các mặt hàng rau quả về 0%. Vì đây là những mặt hàng có xuất xứ thuần tuý 100% do Việt Nam. Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam đề xuất các giải pháp tháo gỡ, trong đó có việc đàm phán chi tiết để đưa thuế các mặt hàng rau quả về 0%. Về lâu dài, doanh nghiệp xuất khẩu rau quả cần đầu tư phát triển đa dạng sản phẩm chế biến tiện lợi nhưng vẫn đảm bảo có lợi cho sức khỏe đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng bản địa.
除优势之外,越南农林水产品生产和出口仍面临诸多挑战,特别是美国对等关税将于2025年8月正式生效。越南蔬果协会主席阮青平建议加大谈判力度,将蔬果的税率降至零。另外,蔬果出口企业需要开发多种便捷加工产品,保障这些产品既有益于健康,又能满足当地消费者的需求和口味。
Trong khi đó, ông Nông Đức Lai, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Trung Quốc cho biết, Doanh nghiệp xuất khẩu cần đầu tư, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, chế biến, bảo quản nhằm nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm nông lâm thủy sản. Thường xuyên cập nhật, nắm bắt nhu cầu thị hiếu, xu thế của thị trường từ đó phát triển sản phẩm, mẫu mã, bao bì phù hợp; chú trọng xây dựng thương hiệu cho sản phẩm xuất khẩu. Xây dựng, đăng ký thương hiệu phải được xem là những việc cần làm ngay khi thâm nhập, thậm chí là chuẩn bị thâm nhập thị trường Trung Quốc.
与此同时,越南驻华商务参赞农德莱认为,出口企业需要在生产、加工、保鲜等方面加大投资力度并应用新技术,提高农林水产品的附加值。同时定期更新并掌握市场需求、品味和趋势,开发合适的产品、设计和包装;注重打造出口产品的品牌。
Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng nhấn mạnh, xuất khẩu nông lâm thuỷ sản dù đối mặt nhiều thách thức vẫn luôn đảm bảo là trụ cột tăng trưởng của ngành, đóng góp tích cực vào xuất khẩu chung cả nước. Bộ Nông nghiệp và Môi trường quyết tâm đạt tăng trưởng ngành trên 4%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 65 tỷ USD, phấn đấu 70 tỷ USD trong năm 2025.
农业与环境部代理部长陈德胜强调,尽管面临诸多挑战,但农林水产品出口仍然是该行业的增长支柱,为全国出口活动作出了积极贡献。该部力争实现增长率达4%以上,农林水产品出口额达650亿美元以上,力争2025年达到700亿美元。
Để kịp thời hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, ngành hàng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao sẽ phối hợp chặt chẽ tổ chức các hội nghị xúc tiến thương mại hiệu quả ở từng khu vực, thị trường cụ thể. Từng thị trường sẽ có hướng tiếp cận riêng, trong đó tiếp tục đàm phán với đối tác Hoa Kỳ chia sẻ chi phí thuế để duy trì xuất khẩu; mở rộng xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc; gấp rút gỡ “thẻ vàng” IUU, tận dụng lợi thế thủy sản nuôi, rau quả; gia tăng sản phẩm chế biến chất lượng cao vào Nhật Bản, Hàn Quốc…
为及时支持企业界,农业与环境部、工贸部和外交部将密切配合,在各个具体地区和市场举办贸易促进会。另外,继续与美国伙伴进行谈判,分担税收成本,维持出口;扩大对华官方出口;紧急解除打击非法、不报告和不受管制(IUU)“黄牌警告”,利用养殖水产品、蔬果的优势;增加向日本和韩国出口优质加工产品。
Về lâu dài, các ngành hàng cần xây dựng vùng nguyên liệu tập trung đạt tiêu chuẩn quốc tế, giữ vững uy tín chất lượng, ứng dụng công nghệ cao, đổi mới bao bì; chuyển dịch từ tăng sản lượng sang giá trị gia tăng với sản phẩm chế biến sâu nhằm nâng cao vị thế cho nông lâm thuỷ sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
从长远来看,各行业需要建设符合国际标准的原料集中区,维护质量信誉,应用高科技,创新包装;从增加产量转向增加价值,以提高越南农林水产品在国际市场上的地位。(完)
越通社
Nguồn tiếng Trung: Zh.Vietnamplus

