Việt Nam chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp số
越南注重发展数字产业高质量人力资源

Theo thống kê, Việt Nam hiện có gần 78.000 doanh nghiệp công nghệ số với khoảng 1,9 triệu nhân lực đang làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Với nguồn cung nhân lực dồi dào, Việt Nam đang có lợi thế lớn để phát triển lĩnh vực KHCN trở thành trụ cột trong nền kinh tế quốc gia.

据统计,越南目前拥有近7.8万家数字技术企业,约190万人正在信息技术领域工作。凭借充足的人力资源供给,越南在将科技领域发展成为国家经济支柱方面具有显著优势。

quan ly van hanh luoi dien bang cong nghe thong tin tai trung tam dieu do he thong dien thanh pho ho chi minh anhTrung tâm Điều độ Hệ thống điện TP. Hồ Chí Minh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và vận hành lưới điện. Ảnh: TTXVN胡志明市电力系统调度中心应用信息技术来进行电网管理与运行。图自越通社

Theo thống kê, Việt Nam hiện có gần 78.000 doanh nghiệp công nghệ số với khoảng 1,9 triệu nhân lực đang làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Với nguồn cung nhân lực dồi dào, Việt Nam đang có lợi thế lớn để phát triển lĩnh vực KHCN trở thành trụ cột trong nền kinh tế quốc gia.

越通社河内——据统计,越南目前拥有近7.8万家数字技术企业,约190万人正在信息技术领域工作。凭借充足的人力资源供给,越南在将科技领域发展成为国家经济支柱方面具有显著优势。

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp công nghệ số vẫn khó khăn trong tuyển dụng nhân lực chất lượng cao.

然而,在当前背景下,数字技术企业在招聘高质量人力资源方面仍面临困难。

Theo các chuyên gia, đa phần doanh nghiệp đều muốn tuyển được những nhân viên có thể làm việc ngay, tuy nhiên rất khó để làm được điều đó. Một trong những lý do bởi các ngành công nghệ cao hiện nay ở Việt Nam đa số còn mới (có thể kể đến những lĩnh vực được xem là chủ chốt trong tương lai như trí tuệ nhân tạo, robot…) trong khi các ngành đào tạo về những lĩnh vực này tại các cơ sở giáo dục chưa có nhiều, dẫn đến tình trạng chênh lệch giữa nhu cầu của doanh nghiệp và khả năng đào tạo của nhà trường…

专家指出,大多数企业都希望能招聘到“即插即用”的员工,但在现实中却很难做到。原因之一在于,越南目前的许多高科技产业仍较为新兴(如人工智能、机器人等被视为未来的核心领域),而相关专业在教育机构中的培训规模和深度尚有限,导致企业用人需求与学校培养能力之间存在差距。

Để khắc phục điều này, theo đồng chí Nguyễn Văn Thắng, công ty đã chủ động đào tạo lại nhân lực, tuy nhiên, việc này cũng gặp những khó khăn nhất định. Đối với công nhân có thể chỉ mất một vài tháng để quen việc, thậm chí chỉ mất vài tuần. Nhưng đối với những ngành công nghệ cao thì lâu hơn nhiều, ví dụ đối với một kỹ sư có thể mất đến gần một năm. Trong khi đó, không có nhiều doanh nghiệp đủ kiên nhẫn và nguồn lực để có thể duy trì hoạt động này.

为克服这一问题,许多企业已主动开展再培训,但这一过程也存在不少挑战。对于普通工人而言,只需几周或几个月即可熟悉工作;但对于高科技领域的工程师,则可能需要长达一年时间。而并非所有企业都具备足够的耐心和资源来长期维持这种培训。

Có thể thấy, để tháo gỡ những vướng mắc đang cản trở việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần tổ chức tốt việc phối hợp giữa “3 nhà”, gồm: Nhà nước, nhà trường, nhà doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần thiết lập những chính sách khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học để ứng dụng kết quả khoa học vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, đồng thời phát triển thị trường cho các sản phẩm KHCN.

可以看出,要破解制约高质量人力资源发展的瓶颈,必须做好“政府—学校—企业”三方协同。同时,应出台强有力的政策,鼓励企业加大研发(R&D)投入,加强与科研院所、高校的合作,将科研成果应用于生产经营实践,并推动科技产品的市场化。

Cùng với đó là chú trọng vai trò đào tạo tại các nhà trường. Đối với lĩnh vực công nghệ cao, hoạt động đầu tư lớn nhất không phải là máy móc mà là con người. Con người là tài sản lớn nhất trong lĩnh vực này, vì vậy, các trường cần chủ động cập nhật, đổi mới chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường trong bối cảnh KHCN phát triển nhanh chóng.

此外,还要重视学校在人才培养中的作用。对于高科技领域而言,最大的投资并非机器设备,而是人。人才是该领域最宝贵的资产,因此,各高校需要主动更新课程体系,及时调整教学内容,以适应科技飞速发展的市场需求。

Trong những năm gần đây, Chính phủ đã rất chú trọng xây dựng các chính sách để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như tạo bệ đỡ cho các doanh nghiệp công nghệ số trong nước.

近年来,越南政府高度重视高质量人力资源建设,出台了一系列支持政策,为国内数字技术企业发展提供支撑。

Theo đồng chí Nguyễn Thị Nga, Phó vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ KHCN, đơn vị đang chủ trì xây dựng các nghị định hướng dẫn thi hành Luật KHCN và Đổi mới sáng tạo. Trong đó có nghị định về chế độ, chính sách cho nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào 3 nội dung chính.

科学技术部干部组织司副司长阮氏娥同志介绍,该部正主导起草《科技法》实施引导议定,其中包括关于高质量人力资源的制度与政策,重点围绕三个方面:

Thứ nhất, Nhà nước ưu tiên giao trực tiếp nhiệm vụ KHCN, đặc biệt là những nhiệm vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược cho các tổ chức, doanh nghiệp thu hút được nhân tài làm việc. Thứ hai, về điều kiện môi trường làm việc, Nhà nước tập trung xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm có trang thiết bị đầy đủ, hiện đại để phục vụ hoạt động KHCN, đổi mới sáng tạo. Thứ ba, các cá nhân sẽ được hưởng thành quả xứng đáng từ hoạt động đổi mới sáng tạo.

一是国家优先将科技任务,尤其是高科技和战略性技术任务,直接交给能够吸引人才的组织与企业;二是关于工作环境条件,国家将重点建设设备齐全、现代化的重点实验室,为科技与创新活动提供保障;三是个人能够从创新活动中获得应有的成果与待遇。

Tuy nhiên, các địa phương, doanh nghiệp không nên chỉ trông chờ vào chính sách mà cần có những kế hoạch cụ thể trong việc phát triển nguồn nhân lực.

不过,各地方与企业也不能仅依赖政策,而应制定具体的人才发展计划。

Đối với doanh nghiệp, đồng chí Nguyễn Văn Thắng cho biết, ngoài các hồ sơ xin việc thông thường, công ty đã chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo để tuyển dụng ngay sinh viên khi còn đang học năm thứ ba, thứ tư và trả lương các sinh viên như đối với kỹ sư. Điều này sẽ giúp các sinh viên được tiếp xúc và trải nghiệm sớm với môi trường làm việc chuyên nghiệp khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường, từ đó rút ngắn được thời gian làm quen với công việc sau khi ra trường.

对于企业而言,应主动与高校合作,招聘大三、大四年级学生,并按照工程师标准支付薪酬。这不仅能让学生在校期间便接触并体验专业化的工作环境,也能在毕业后迅速适应岗位需求,缩短上岗过渡期。(完)

越通社

Zh.Vietnamplus  

Baoquandoinhandan 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *