Trải qua hơn bốn thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã chuyển dịch mạnh mẽ hệ thống chính sách nhà ở từ cơ chế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường đầy năng động. Trong quá trình đó, bên cạnh thị trường bất động sản sôi động, Nhà nước đã luôn giữ vững vai trò, với việc triển khai quyết liệt chính sách nhà ở xã hội để tạo nguồn cung, đảm bảo người dân, nhất là các nhóm thu nhập thấp, có thể tiếp cận chỗ ở ổn định với giá cả hợp lý.
经过四十多年革新历程,越南住房政策体系经历了深刻的转变,从高度集中的计划经济体制逐步向充满活力的市场经济体制转变。在这一过程中,除了活跃的房地产市场之外,国家始终发挥着主导作用,扎实推进保障性住房政策落地见效,增加保障性住房供应量,确保人民,尤其是低收入群体能够以合理的价格购买住房。
Ảnh tư liệu. Ảnh: TTXVN资料图。图自越通社
Trải qua hơn bốn thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã chuyển dịch mạnh mẽ hệ thống chính sách nhà ở từ cơ chế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường đầy năng động. Trong quá trình đó, bên cạnh thị trường bất động sản sôi động, Nhà nước đã luôn giữ vững vai trò, với việc triển khai quyết liệt chính sách nhà ở xã hội để tạo nguồn cung, đảm bảo người dân, nhất là các nhóm thu nhập thấp, có thể tiếp cận chỗ ở ổn định với giá cả hợp lý.
越通社河内——经过四十多年革新历程,越南住房政策体系经历了深刻的转变,从高度集中的计划经济体制逐步向充满活力的市场经济体制转变。在这一过程中,除了活跃的房地产市场之外,国家始终发挥着主导作用,扎实推进保障性住房政策落地见效,增加保障性住房供应量,确保人民,尤其是低收入群体能够以合理的价格购买住房。
Đổi mới và xuất hiện của thị trường bất động sản 改革开放与房地产市场的出现
Từ sau 1986, đặc biệt là từ thập niên 1990 trở đi, Việt Nam dần mở cửa kinh tế, thúc đẩy tư nhân, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực bất động sản. Nhà ở bắt đầu chuyển từ “cấp phát” sang “mua bán”, biến động theo cung‑cầu, giá cả chịu tác động thị trường. Các dự án chung cư thương mại, nhà liền kề, biệt thự… hình thành khắp nơi.
自1986年以后,尤其是从90年代起,越南逐渐开放经济,支持私人和企业对房地产领域进行投资。住房开始从“分配”转变为“买卖”,根据供需实际而波动,价格受市场的影响。商品房公寓、联排住宅、别墅等项目在各地逐渐形成。
Điều này tạo ra nguồn lực lớn, thu hút đầu tư xã hội vào hạ tầng – nhà ở, đóng góp to lớn cho tăng trưởng GDP ngành xây dựng và bất động sản. Tuy nhiên, đi cùng là hiện tượng đầu cơ, giá bất động sản nhiều nơi tăng “nóng”, vượt xa khả năng chi trả của nhóm người thu nhập thấp và trung bình.
这一变化创造了大量资源,吸引社会资本参与基础设施——住房投资,为建筑业和房地产行业的国内生产总值(GDP)增长做出了巨大贡献。然而,随之而来的是投机现象,许多地方房地产价格暴涨,远超低收入和中等收入群体的承受能力。
Nhận thức rõ bất cập trong cơ chế thị trường, từ thập niên 2000 đến nay, Nhà nước đã xây dựng và triển khai hệ thống chính sách nhà ở xã hội, coi đây là giải pháp để đảm bảo an sinh xã hội, giảm bớt chênh lệch tiếp cận nhà ở giữa các tầng lớp dân cư.
意识到市场机制中的不足之处,自2000年代以来,国家已出台并落实保障性住房政策,将其视为加强社会保障、减少不同社会阶层之间获取住房能力差距的解决方案。
Nhờ trợ lực chính sách, nhiều dự án nhà ở xã hội lần lượt ra đời. Các dự án này thường được cho thuê hoặc bán với giá thấp hơn thị trường, có thời gian hỗ trợ lâu dài. Một số dự án được liên kết giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương xây dựng để tăng hiệu quả vốn đầu tư.
得益于政策支持,许多保障性住房项目相继问世。这些项目通常以低于市场价格出租或出售,并提供长期的支持。部分项目由企业与地方政府合作建设,以提高投资效益。
Đồng thời, người dân mua nhà ở xã hội còn được tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội hay ngân hàng thương mại với lãi suất thấp, thời gian vay dài. Điều này giảm áp lực tài chính và giúp người dân dễ dàng tiếp cận nhà ở gắn với nhu cầu thực.
此外,保障性住房购买者还可获得来自社会政策银行或商业银行的优惠贷款,享受低利率和长期贷款。这降低了财政支付压力,帮助居民更容易获取住房,满足他们的实际需求。
Chính phủ luôn coi việc phát triển nhà ở xã hội là một trong những trọng tâm trong chiến lược an sinh xã hội và phát triển kinh tế lâu dài. Tại các phiên họp thường kỳ, Thủ tướng Chính phủ nhiều lần yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt hơn các giải pháp thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, nhất là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất – nơi tập trung đông người lao động.
越南政府始终将保障性住房发展视为社会保障和长期经济发展战略的重点之一。在各场例行会议上,政府总理多次要求各部门、地方政府采取更有力的措施推动保障性住房发展,特别是在工业区、出口加工区等劳动密集型地区。
Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: “Thị trường bất động sản phát triển lành mạnh phải đáp ứng đồng thời cả nhu cầu thương mại và nhu cầu xã hội. Nhà ở xã hội không phải là việc riêng của người thu nhập thấp, mà là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị.” “Mục tiêu hoàn thành ít nhất 100.000 căn nhà ở xã hội từ nay đến cuối năm 2025 là không đổi” – Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh.
政府总理范明政强调,“房地产市场的健康发展必须同时满足商业需求和社会需求。保障性住房不仅仅是低收入群体的事,而且是整个政治体系的责任”,“从现在到2025年底至少完成10万套保障性住房的目标不变。”
Vai trò “người điều tiết” “调节者”的角色
Các chuyên gia nhận xét, các cơ chế, chính sách ưu đãi cho phát trẻn nhà ở xã hội đã giúp giảm tổng chi phí đầu vào, từ đó giảm giá bán hoặc cho thuê nhà, tạo điều kiện cho người dân dễ tiếp cận hơn. Dù là cơ chế thị trường nhưng vẫn có sự điều tiết của Nhà nước trong phân khúc nhà ở này nhằm hài hòa lợi ích xã hội và kinh tế củ chủ đầu tư.
专家评价称,保障性住房发展优惠政策和机制已助力降低成本,从而减少了房屋的销售或租赁价格,使居民更容易获得住房。尽管这是市场机制,但国家仍对保障性住房领域进行调节,旨在平衡社会利益与投资者的经济利益。
Nhà nước đóng vai trò là “người điều tiết” qua quy hoạch, cấp phép, định giá, kiểm soát chất lượng công trình, đồng thời tạo ra các cơ chế để đảm bảo sự công bằng; tránh việc dự án thương mại “lấn át” nguồn cung nhà ở xã hội. Các chương trình quốc gia về nhà ở, quỹ phát triển nhà ở… vẫn được triển khai.
国家通过规划、审批、定价、质量控制等方式发挥着“调节者”的作用,同时制定相应机制确保公平,避免商品公寓项目“挤占”保障性住房供应。国家住房项目、住房发展基金等仍在积极推进。
Bộ Xây dựng cho biết, thực hiện Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, tính đến thời điểm cuối tháng 7, số lượng dự án đã hoàn thành, khởi công, chấp thuận chủ trương đầu tư đến năm 2025 trong cả nước đạt 59,6% so với chỉ tiêu đã đặt ra tại Đề án (đầu tư xây dựng khoảng 1.062.200 căn).
建设部表示,实施建设100万套保障性住房项目,截至7月底,已经完工、开工及获批的项目达既定目标(建设约1062200套)的59.6%。
Cả nước có 692 dự án nhà ở xã hội đang được triển khai với quy mô 633.559 căn. Trong đó có 146 dự án hoàn thành với quy mô 103.717 căn; 124 dự án đã khởi công xây dựng, đang triển khai với quy mô 111.622 căn; 422 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư, quy mô 418.220 căn.
全国目前正在开展692个保障性住房建设项目,总规模为633559套。其中146个项目已经竣工,总规模103717套;124个项目已开工,规模为111622套;422个项目已获批,规模为418220套。
Qua kiểm tra thực tế và tổng hợp báo cáo của các địa phương, tính đến ngày 15/7/2025, cả nước đã hoàn thành 36.962/100.275 căn (đạt 37%); đang đầu tư xây dựng 111.622 căn, trong đó khả năng hoàn thành trong năm 2025 là 74.021/100.275 căn (đạt khoảng 74%); đã khởi công 27 dự án với quy mô 24.232 căn, tương đương 95,4% số lượng căn hộ được khởi công cả năm 2024.
截至2025年7月15日,全国已完成36962套保障性住房建设(达37%);正在建设111622套,其中74021套(占74%)有望在2025年内竣工;27个项目已开工,规模为24232套,占2024年开工住房总数的95.4%。
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh khẳng định, phát triển nhà ở xã hội không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị, xã hội quan trọng, góp phần ổn định thị trường bất động sản và nâng cao chất lượng sống của người dân, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và dòng lao động tập trung tại các thành phố lớn.
建设部副部长阮文生强调,保障性住房发展不仅是一项经济任务,更是一项重要的政治和社会任务,有助于稳定房地产市场,提升人民生活质量,尤其是在城镇化速度快以及劳动力集中于大城市的背景下。
Việt Nam tiếp tục duy trì cam kết phát triển đồng bộ nhà ở theo hướng bền vững, công bằng và hiện đại, phù hợp với xu thế đô thị hóa, công nghiệp hóa và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng sống của người dân trong thời kỳ hội nhập./.
越南继续履行朝着可持续、公平、现代化方向推动住房发展,顺应城镇化和工业化趋势,满足融入国际社会时期人民群众生活质量日益提高的需求。(完)
Nguồn tiếng Trung: Zh.Vietnamplus

