Theo nhiều nghiên cứu, khu công nghiệp xanh có thể giúp tăng năng suất lao động từ 15-25% nhờ áp dụng công nghệ, cải thiện môi trường làm việc và thu hút nhân sự chất lượng cao. Tuy nhiên, thực tế phát triển khu công nghiệp xanh tại Việt Nam còn hạn chế, thậm chí xuất hiện tình trạng “tẩy xanh” (greenwashing) khu công nghiệp.
据《人民报》,据多项研究显示,绿色工业区可通过应用技术、改善工作环境以及吸引高素质人才,使劳动生产率提高15%至25%。然而,越南绿色工业区的发展目前仍然有限,甚至出现了工业区“漂绿”(greenwashing)的情况。
Khu công nghiệp Điện Nam-Điện Ngọc thuộc phường Điện Bàn Đông, thành phố Đà Nẵng với các nhà máy được đầu tư công nghệ tiên tiến.绿色工业区成为可持续增长的动力 。图自人民报
Theo nhiều nghiên cứu, khu công nghiệp xanh có thể giúp tăng năng suất lao động từ 15-25% nhờ áp dụng công nghệ, cải thiện môi trường làm việc và thu hút nhân sự chất lượng cao. Tuy nhiên, thực tế phát triển khu công nghiệp xanh tại Việt Nam còn hạn chế, thậm chí xuất hiện tình trạng “tẩy xanh” (greenwashing) khu công nghiệp.
越通社河内——据《人民报》,据多项研究显示,绿色工业区可通过应用技术、改善工作环境以及吸引高素质人才,使劳动生产率提高15%至25%。然而,越南绿色工业区的发展目前仍然有限,甚至出现了工业区“漂绿”(greenwashing)的情况。
Trước áp lực từ thị trường và các cam kết môi trường, quá trình chuyển đổi xanh tại các khu công nghiệp đang đối mặt nhiều thách thức, từ sự phức tạp của chính sách đến thực trạng “tẩy xanh” – nghĩa là tuyên bố các cam kết về môi trường nhưng không có cơ sở thực tế.
在来自市场和环保承诺的压力下,各工业区的绿色转型过程正面临诸多挑战,从政策的复杂性到“漂绿”现状——即宣称环保承诺但没有实际依据。
Đầu tư vào công nghiệp xanh không chỉ là lựa chọn mà còn là yêu cầu bắt buộc nếu Việt Nam muốn duy trì tăng trưởng nhanh và giữ vững vị thế trong kỷ nguyên mới, hướng tới giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
如果越南希望在新时代维持快速增长并保持领先地位,力争至2050年实现净零排放,那么投资绿色工业不仅是一种选择,更是一个必然要求。
Theo chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam Nguyễn Bá Hùng, tăng trưởng xanh là cơ hội để đất nước bứt phá về kinh tế, từng bước xây dựng nền tảng phát triển bền vững. Mặc dù chính sách về vấn đề này đã được ban hành từ năm 2018, hoàn thiện bằng Nghị định số 35/2022/NĐ-CP của Chính phủ với hệ thống tiêu chí rõ ràng, nhưng đến nay Việt Nam vẫn chưa có khu công nghiệp nào được công nhận, cấp chứng chỉ là khu công nghiệp sinh thái.
据亚洲开发银行(越南)首席经济学家阮伯雄表示,绿色增长是国家实现经济突破、逐步建设可持续发展基础的机遇。尽管越南政府于2018年颁布了关于该问题的政策,并根据第35/2022/ND-CP号议定书完善,制定了明确的标准体系,但迄今为止,越南尚无任何工业区获取生态工业区的认可或认证。
Tiến sĩ (TS) Nguyễn Thế Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển cho rằng, hiện nay các khu công nghiệp mới chỉ đạt được 60-70% so với tiêu chí để được công nhận là khu công nghiệp sinh thái.
政策与发展研究院副院长阮世雄博士表示,目前,工业区仅达到生态工业区认定标准的60%至70%。
Còn theo Phó Tổng Giám đốc thứ nhất Khu công nghiệp Nhật Bản-Hải Phòng Đỗ Quang Hưng, phong trào khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái được bắt đầu từ năm 2018, nhưng đến nay không có nhiều khu công nghiệp mặn mà với mô hình này. Trong thực tế, một số doanh nghiệp, khu công nghiệp đang có hành vi “tẩy xanh” – quảng bá triển khai công nghiệp sinh thái, nhưng thực chất chỉ là bề ngoài.
海防市日本工业区第一副总经理杜光兴表示,绿色工业区、生态工业区运动于2018年启动,但目前为止,对这一模式感兴趣的工业区并不多。实际上,一些企业和工业区正在采取“漂绿”行为,他们大力推广展开生态工业,但实际上只是表面功夫。
Ông Hưng cũng bày tỏ nghi vấn đối với các khu công nghiệp mới khi các đơn vị đầu tư cam kết phát triển thành khu công nghiệp sinh thái nhưng phải sau thời gian 3-5 năm, thậm chí 10 năm mới cho kết quả là có sinh thái hay không. Hành động “tẩy xanh” sẽ làm chậm tiến trình hành động thực chất, gây nhiễu thông tin cũng như suy giảm niềm tin của cộng đồng.
杜光兴先生也对一些新工业区表示质疑,因投资者承诺将其发展为生态工业区,但其是否符合生态标准,需要3-5年,甚至10年才能检验。“漂绿”行为会拖慢实际行动的进程,造成信息干扰,降低公众信任度。
Với mô hình khu công nghiệp thế hệ mới áp dụng số hóa, công nghệ tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng, một số doanh nghiệp như Panasonic, CNCTech, VietCycle… đã giảm đáng kể chi phí và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
随着应用数字化、循环技术、节能减排等的新一代工业区模式,松下(Panasonic)、CNCTech、VietCycle等企业成本大幅降低,市场竞争力增强。
Các mô hình này cho thấy việc đầu tư vào công nghiệp xanh không những bảo vệ môi trường mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Tuy nhiên, ông Hưng nhấn mạnh, muốn làm các khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái thì trước hết, các doanh nghiệp trong đó phải chuyển đổi. Doanh nghiệp, nhà máy trong khu công nghiệp không chuyển đổi, không sản xuất sạch hơn thì điều này khó có thể thực hiện được.
这些模式表明,投资绿色工业不仅保护环境,还能带来明显的经济效益。然而,杜光兴先生强调,要打造绿色工业区和生态工业区,首先入驻的企业必须转型。如果工业区的企业和工厂不转型,不进行清洁生产,就很难实现这一目标。
Nhiều doanh nghiệp cũng cho biết, chính sách đang là rào cản, gây khó khăn trong việc chuyển đổi xanh. TS Nguyễn Thế Hùng dẫn chứng, tại khu công nghiệp Nam Cầu Kiền (Hải Phòng), nhiều doanh nghiệp thành lập riêng một phòng gồm năm luật sư chỉ để nghiên cứu chính sách pháp luật của Việt Nam liên quan đến chuyển đổi xanh. Tương tự, khu công nghiệp Deep C cũng cần ba đến năm luật sư cho công việc này.
许多企业也表示,政策就是其进行绿色转型的壁垒,给他们带来困难。阮世雄博士举例说,在海防市乾桥南工业区,许多企业成立了一个由五名律师组成的部门,专门研究越南与绿色转型相关的法律政策。同样,Deep C工业区也需要三到五名律师来开展这项工作。
Nhằm tiếp thêm động lực cho doanh nghiệp trong chuyển đổi xanh, TS Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân (Ban IV) cho rằng, cần hoàn thiện khung pháp lý để phát triển tín dụng xanh, từ đó đa dạng hóa nguồn vốn.
要想为进行绿色转型的企业注入动力,私营经济研发委员会(第四委员会)副主任裴青明博士认为,需完善发展绿色信贷的法律框架,从而实现资金来源多样化。
Đồng thời, ông Minh cũng chỉ ra cơ hội sản xuất năng lượng tái tạo, hydro xanh và cụm công nghiệp sạch với mục tiêu phát triển bền vững. Với tiềm năng hơn 1.000 GW điện, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm sản xuất hydro xanh cạnh tranh về chi phí.
裴青明先生还指出生产可再生能源、绿色氢能和清洁产业集群的机遇,以实现可持续发展。越南拥有超过1000吉瓦的电力潜力,完全有能力成为具有成本竞争力的绿色氢气生产中心。
Việc hình thành các cụm công nghiệp xanh – nơi doanh nghiệp lớn và nhỏ chia sẻ hạ tầng và nguồn năng lượng sạch sẽ tạo ra hệ sinh thái mới, giúp các doanh nghiệp nội địa nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Cùng với đó, việc khuyến khích phát triển các hệ thống điện mặt trời áp mái tự sản tự tiêu tại các khu công nghiệp đang được đẩy mạnh giúp tiết giảm chi phí, đồng thời tạo cơ hội để các doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển tham gia thị trường tín chỉ các-bon.
大型企业和小型企业共享基础设施和清洁能源的绿色工业集群的形成,将创造一个新的生态系统,助力国内企业提升参与全球供应链的能力。与此同时,推动工业区自发自用屋顶太阳能发电系统发展,有助于降低成本,同时为企业研发参与碳信用额市场创造机会。
Có thể thấy, chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn, mà là điều kiện để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại và phát triển trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể đi một mình mà cần một hệ sinh thái đồng hành, bao gồm chính sách minh bạch, nhất quán, dễ tuân thủ cùng nguồn vốn xanh, công nghệ phù hợp và sự liên kết giữa các bên để biến thách thức thành động lực tăng trưởng bền vững.
由此可见,绿色转型不再是一种选择,更是企业在新环境下持续生存和发展的条件。然而,企业不能独自前行,而需要一个配套的生态系统,包括透明、一致、易于遵循的政策,以及绿色资本、合适的技术以及各方之间的联系,从而将挑战转化为可持续的增长动力。(完)
越通社
Nguồn tiếng Trung: Zh.Vietnamplus
Nguồn tiếng Việt: Baonhandan

