Ngày 14/11, tại thủ đô Seoul của Hàn Quốc, Bộ Tài chính Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hàn Quốc đã phối hợp tổ chức Kỳ họp Ủy ban liên Chính phủ hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật Việt Nam-Hàn Quốc lần thứ 20.
11月14日,越南财政部与韩国外交部在首尔共同主持召开越韩政府间经济、科技合作委员会第20次会议。
Quang cảnh Kỳ họp Ủy ban liên Chính phủ hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật Việt Nam-Hàn Quốc lần thứ 20. (Ảnh: Trường Giang/TTXVN)越韩政府间经济、科技合作委员会第20次会议现场。图自越通社
Ngày 14/11, tại thủ đô Seoul của Hàn Quốc, Bộ Tài chính Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hàn Quốc đã phối hợp tổ chức Kỳ họp Ủy ban liên Chính phủ hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật Việt Nam-Hàn Quốc lần thứ 20.
越通社首尔——11月14日,越南财政部与韩国外交部在首尔共同主持召开越韩政府间经济、科技合作委员会第20次会议。
Theo phóng viên TTXVN tại Seoul, Kỳ họp do Thứ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Trần Quốc Phương và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Kim Hee Sang đồng chủ trì nhằm rà soát tình hình hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực từ Kỳ họp lần thứ 19 được tổ chức năm 2022 tới nay, đồng thời đề ra phương hướng hợp tác trong thời gian tới.
据越通社驻首尔记者报道,本次会议由越南财政部副部长陈国方和韩国外交部副部长金熙尚共同主持,旨在回顾自2019年第19次会议以来两国在各领域的合作情况,并共同规划未来合作方向。
Tại cuộc họp, hai bên đã trao đổi về tình hình và giải pháp thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, hợp tác phát triển, lao động, an ninh kinh tế, năng lượng, cơ sở hạ tầng, ngân hàng, khoa học công nghệ, biến đổi khí hậu và một số lĩnh vực khác. Hai bên cũng nhấn mạnh những thành tựu mà hợp tác hai nước đã đạt được trong thời gian qua trên tất cả các lĩnh vực, nhất là từ khi hai nước nâng cấp quan hệ ngoại giao lên Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2022, quan hệ hợp tác giữa hai nước đã phát triển vượt bậc, đem lại lợi ích và hiểu biết, tin cậy sâu sắc lẫn nhau cho cả hai phía.
会上,双方就推动贸易、投资、发展合作、劳务、经济安全、能源、基础设施、银行、科学技术、气候变化等多个领域的合作现状与解决方案深入交换意见。双方高度评价近年来双边合作取得的成就,特别是2022年两国关系提升为全面战略伙伴关系以来,各领域合作实现跨越式发展,为双方带来切实利益并深化了相互理解与信任。
Về thương mại, trong năm 2024, Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam (sau Trung Quốc và Mỹ), là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 và thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt 25,6 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 55,9 tỷ USD. Tám tháng đầu năm nay, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 57,7 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu đạt 18,7 tỷ USD (tăng 10,6%) và nhập khẩu đạt 39 tỷ USD (giảm 5,8%).
在贸易领域,2024年韩国是越南第三大贸易伙伴(仅次于中国和美国),同时也是越南第三大出口市场和第二大进口来源地。越南对韩出口额达256亿美元,自韩进口额达559亿美元。今年前8个月,双边贸易额达577亿美元,同比增长7.3%;其中越南对韩出口187亿美元(增长10.6%),自韩进口390亿美元(下降5.8%)。
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tính đến cuối tháng 9 vừa qua, Hàn Quốc đã có 10.301 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 94,2 tỷ USD, đứng thứ nhất về tổng vốn đăng ký đầu tư và tổng số dự án đầu tư tại Việt Nam trong tổng số 154 quốc gia/vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam. Việt Nam hiện có 114 dự án đầu tư sang Hàn Quốc với tổng số vốn đầu tư 37,7 triệu USD.
在直接投资方面,截至今年9月底,韩国在对越南投资的154个国家和地区中,以有效项目总数10301个和注册资本总额约942亿美元的成绩持续领跑,稳居榜首。越南目前对韩投资114个项目,投资总额3770万美元。
Về viện trợ phát triển chính thức (ODA), trong những năm gần đây, Việt Nam tiếp tục là đối tác ưu tiên hàng đầu mà Hàn Quốc cung cấp vốn với cam kết viện trợ không hoàn lại khoảng 200 triệu USD và 4 tỷ USD từ nguồn vốn vay.
在官方发展援助(ODA)方面,越南始终是韩国的优先合作伙伴。韩方承诺提供约2亿美元无偿援助和40亿美元优惠贷款。
Về hợp tác lao động, hiện có hơn 43.000 lao động Việt Nam đi theo Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài tại Hàn Quốc (Chương trình EPS) chủ yếu trong các ngành sản xuất chế tạo, nông nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, đóng tàu, lâm nghiệp, dẫn đầu về số lượng lao động EPS làm việc tại Hàn Quốc. Tỷ lệ lao động EPS cư trú, làm việc bất hợp pháp tại Hàn Quốc giảm mạnh, chiếm tỷ lệ 19% và vượt mục tiêu mà hai phía đề ra.
在劳务合作领域,目前有超过4.3万名越南劳动者通过韩国外国劳工就业许可制(EPS)在制造业、农业、渔业、建筑、造船、林业等领域工作,越南籍EPS劳务人员数量在韩国位居首位。越南EPS劳工在韩非法滞留率大幅下降至19%,超额完成双方既定目标。
Ngoài ra, các chương trình cung ứng lao động khác (như visa E7, E8 và E10) đều cho thấy nhu cầu tiếp nhận cao từ phía Hàn Quốc và khả năng cung ứng tốt của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ và địa phương có liên quan tại Việt Nam. Việt Nam cũng là quốc gia đứng đầu về số lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật làm việc tại Hàn Quốc với gần 14.000 lao động.
此外,其他劳务输送项目(如E7、E8和E10签证)也显示出韩方的旺盛需求以及越南相关服务企业和地方的良好供应能力。越南还是韩国专业技术人员规模最大的来源国,在韩工作的越南专业技术劳工近1.4万人。
Về khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, Việt Nam và Hàn Quốc đã trao đổi, nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực bán dẫn, điện tử viễn thông, trí tuệ nhân tạo (AI), lượng tử, năng lượng mới, sinh học, nano; xây dựng các chương trình nghiên cứu và phát triển chung; thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học; phát triển các trung tâm nghiên cứu phát triển, đào tạo kỹ sư công nghệ cao; học hỏi mô hình phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ.
在科学技术与数字化转型领域,越韩双方同意加强在半导体、电子通信、人工智能、量子技术、新能源、生物技术、纳米技术等领域的合作;共同制定联合研发计划;促进企业、研究院所和大学间的技术转移;合作建设研发中心,培养高技术工程师;借鉴创业与创新生态系统发展模式;交流支持中小企业技术革新的政策经验。
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Kim Hee Sang đồng chủ trì Kỳ họp. (Ảnh: Trường Giang/TTXVN)越南财政部副部长陈国方与韩国外交部副部长金熙尚。图自越通社
Ngoài các lĩnh vực chính trên, Hàn Quốc và Việt Nam cũng phối hợp để giải quyết các vướng mắc, thúc đẩy hợp tác trong nhiều lĩnh vực năng lượng, cơ sở hạ tầng, biến đổi khí hậu, đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc tại Việt Nam. Thời gian tới, hai bên nhất trí cần tiếp tục tăng cường việc trao đổi, hợp tác chia sẻ thông tin, kinh nghiệm trong các lĩnh vực mà hai bên quan tâm. Kinh nghiệm, năng lực, trình độ của Hàn Quốc là những thế mạnh mà phía Việt Nam có thể tiếp cận khai thác, vận động.
除上述重点领域外,双方还协调解决了能源、基础设施、气候变化及韩国对越直接投资等多个合作领域中存在的障碍。未来,双方一致同意需继续加强在共同关心领域的经验交流与信息共享。韩国的经验、能力与技术水准是越南可积极借鉴利用的优势资源。
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, với khát vọng đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao, Chính phủ Việt Nam đề nghị Chính phủ Hàn Quốc khuyến khích các tập đoàn lớn của nước này đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên như phát triển hạ tầng, sản xuất thiết bị điện tử công nghệ cao, chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng tái tạo, đô thị thông minh, xây dựng các tổ hợp sản xuất công nghiệp chuyên sâu theo chuỗi giá trị, nhất là các dự án của các tập đoàn lớn như Samsung, Hyosung, LG, SK.
在越南经济步入新发展阶段,立志于2045年成为高收入发达国家的背景下,越南政府建议韩国政府鼓励其大型集团优先投资基础设施、高科技电子设备制造、半导体、人工智能、可再生能源、智慧城市、按价值链布局的深度工业综合体等领域,特别是三星、晓星、LG、SK等大型企业的项目。
Trong giai đoạn 2026 – 2030, hai bên định hướng tập trung vào những dự án ưu tiên cao trong các lĩnh vực như đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, đô thị, cở sở hạ tầng công nghệ cao, giáo dục đại học và phối hợp chặt chẽ để triển khai thành công các dự án mới đề xuất sử dụng nguồn vốn từ cam kết viện trợ không hoàn lại 200 triệu USD và 2 hiệp định khung từ Quỹ EDCF và Quỹ EDPF nêu trên.
2026-2030年阶段,双方计划重点聚焦交通基础设施、城市建设、高科技基础设施、高等教育等领域的优先项目,并紧密协作,确保成功实施利用上述2亿美元无偿援助及EDCF与EDPF框架协议资金新提议的项目。
Việt Nam cũng đề nghị Hàn Quốc tiếp tục quan tâm và dành vốn ODA viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam để thực hiện Dự án Đổi mới nghiên cứu phát triển Việt Nam (Dự án VKIST giai đoạn 2)./.
越南同时建议韩国继续关注并安排ODA无偿援助资金,用于实施越南创新研发中心建设项目(VKIST二期项目)。(完)
越通社

