Đảo điện gió ngoài khơi tích hợp hydro xanh: Tối ưu hiệu quả đầu tư
越南推进海上风电与绿氢融合发展

Việt Nam đang đứng trước cơ hội quan trọng để phát triển mô hình kết hợp điện gió ngoài khơi và sản xuất hydro xanh, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và thúc đẩy các mục tiêu giảm phát thải .

越南正面临发展海上风电与绿氢生产相结合模式的重要机遇,以保障能源安全并推进减排目标。

Việc đầu tư đảo điện gió ngoài khơi nối lưới, tích hợp sản xuất nhiên liệu hydro xanh đã được nhiều nước trên thế giới triển khai thành công. Phóng viên TTXVN đã phỏng vấn Tiến sĩ Dư Văn Toán-Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển – Bộ Nông nghiệp và Môi trường về tính khả thi của việc áp dụng mô hình này tại Việt Nam và các cơ chế hỗ trợ cần thiết. 

越南农业与环境部水文气象、环境与海洋科学研究院余文算博士在接受越通社记者采访时就该模式在越南的发展潜力及支持机制作出了上述表示。

Đảo điện gió ngoài khơi tích hợp hydro xanh: Tối ưu hiệu quả đầu tư

Dư Văn Toán , Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam. Ảnh: TTXVN

越南农业与环境部水文气象、环境与海洋科学研究院余文算。图自越通社

Tiến sĩ Dư Văn Toán chỉ rõ, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tạo nền tảng quan trọng cho việc phát triển các loại hình năng lượng tái tạo và năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời và hydro xanh. 

余文算指出,越共中央政治局关于到2030年国家能源安全保障和2045年愿景的第70-NQ/TW号决议为发展海上风电、太阳能和绿氢等可再生能源及新能源类型奠定了重要基础。

Với tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam, theo định hướng đến năm 2030, Việt Nam cần phát triển 6.000 MW; đến năm 2035 cần phát triển 15.000 MW và đến năm 2050 phải có 139.000 MW, để đóng góp 20-25% tổng công suất nguồn điện. 

鉴于越南的海上风电潜力,根据发展方向,到2030年越南海上风电装机容量需达到6000兆瓦,2035年达到1.5万兆瓦,到2050年达到约13.9万兆瓦,占电源总容量的20%至25%。

Sau khi Luật Điện lực (sửa đổi) có hiệu lực, đến nay, khó khăn này đang dần được tháo gỡ. Cụ thể, cơ quan quản lý đã cấp phép cho dự án khởi động quan trọng ở Nam Trung Bộ của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và dự án ở vịnh Bắc Bộ (quần đảo Long Châu và Bạch Long Vĩ) của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Gần đây, cơ quan quản lý đã cấp phép cho Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC)-đơn vị thành viên của Petrovietnam để nghiên cứu đánh giá tiềm năng gió và các yếu tố kỹ thuật cho dự án xuất khẩu điện gió ngoài khơi cho Malaysia và Singapore ở khu vực Bình Thuận. Mới đây nhất, cơ quan quản lý cũng cấp giấy phép cho Pacifico Energy (PE)- tập đoàn năng lượng tái tạo hàng đầu của Mỹ và Tập đoàn Sumitomo (Nhật Bản) để khảo sát điện gió ngoài khơi. 

在《电力法》(修正案)生效后,多个海上风电项目获得许可。其中包括越南国家石油与天然气集团(Petrovietnam)在南部中区的项目、越南电力集团在北部湾区域的项目、越南石油技术服务股份公司(PTSC)在平顺省研究向马来西亚和新加坡出口风电的项目以及美国太平洋能源集团(PE)和日本住友集团(Sumitomo)的勘察项目。

Tiến sĩ Dư Văn Toán cho biết , hiện Việt Nam đã nối lưới được khoảng 1.500 MW điện gió ven bờ biển ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, các công ty của Việt Nam và các công ty liên doanh nước ngoài đã bước đầu sử dụng công nghệ móng cọc đơn (monopile) để phát triển điện gió ven bờ biển với công suất vài trăm MW. Đây chính là nền tảng kỹ thuật khả thi để áp dụng công nghệ monopile này cho các dự án điện gió ngoài khơi xây dựng ngoài phạm vi 6 hải lý. 

余文算表示,越南已初步建立海上风电发展的法律与技术框架。目前,九龙江三角洲各省约1500兆瓦的近海风电项目已实现并网发电。单桩基础(monopile)技术正被国内企业及合资企业应用,为今后开发更远海域的项目奠定基础。

Tuy nhiên, với Việt Nam, những nội dung liên quan đến điện gió ngoài khơi vẫn chưa rõ ràng. Minh chứng rõ nhất là Giấy phép Điện lực thì do Bộ Công Thương cấp; Giấy phép khảo sát, Giấy phép Môi trường và Đánh giá tác động môi trường thì do Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp. Thực tế là, việc cấp Giấy phép khảo sát điện gió ngoài khơi vẫn tương đối chậm do số đơn xin cấp phép hiện tương đối nhiều. Đặc biệt, giá mua điện gió ngoài khơi cũng là vấn đề đáng quan tâm. Tính toán của Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển cho thấy với khung giá điện 3 miền dao động từ 12-15 cent USD/kWh điện gió ngoài khơi, nếu ở mức giá cao, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sẽ có thể thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, đến thời điểm này, các hợp đồng mua bán điện áp dụng theo cơ chế giá điện FIT1, FIT2 (cơ chế hỗ trợ năng lượng tái tạo áp dụng cho các dự án trước năm 2021) không còn duy trì… nên cần phải tính toán lại để đảm bảo hài hoà lợi ích giữa các bên. 

然而,海上风电领域仍存在诸多障碍。有关勘察许可、环境、海域使用费、电网连接和购电价格的规定尚未真正同步。据水文气象、环境与海洋科学研究院测算,海上风电价格框架约需每千瓦时12-15美分才能为外国投资者带来足够利润。与此同时,之前的FIT电价机制已不再适用,因此需要制定新的、平衡各方利益的政策。

Ông Dư Văn Toán cho rằng , chính sách khuyến khích đầu tư vào điện gió ngoài khơi cũng cần xem xét các chính sách hỗ trợ về phí sử dụng mặt biển, đáy biển, đặc biệt đối với các dự án vùng biển xa, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi các gói thầu khảo sát, thi công, vận hành và logistics. 

余文算还认为,鼓励投资海上风电的政策也需要考虑对海面、海床使用费的支持政策,特别是对远海项目,以为越南企业参与勘察、施工、运营和物流等一揽子服务创造条件。

Gần đây, các dự án điện gió ngoài khơi khi thực hiện đầu tư đều được gợi ý nên kết hợp với sản xuất hydro xanh-một dạng nhiên liệu sạch. Khi hình thành nhà máy sản xuất điện gió ngoài khơi nối lưới, nếu không được mua hết sản lượng ở một vài thời điểm, doanh nghiệp có thể sử dụng năng lượng còn thừa đó cho sản xuất hydro từ việc phân tách nước biển, từ đó tối ưu hiệu quả kinh tế cho nhà máy điện gió ngoài khơi. 

近期,多个拟投资建设的海上风电项目均被建议与绿氢生产相结合。当剩余电力无法完全消纳时,企业可利用这部分电能通过海水制取绿氢,从而提高海上风电项目的经济效益。

Đặc biệt, hydro xanh hiện đã được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế như làm nhiên liệu cho ô tô vận tải, các tàu dịch vụ ven biển… Hướng tới mục tiêu đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050, cảng biển xanh ở Việt Nam cũng bước đầu sử dụng hydro xanh một số phương tiện lai dắt hoặc tàu cỡ nhỏ trong vùng cảng biển. 

绿氢目前已广泛应用于经济中,例如作为运输汽车、沿海服务船的燃料等。面向2050年实现净零排放的目标,越南的绿色港口已开始在港口区域内初步使用绿氢为部分拖轮或小型船舶提供动力。

Tiến sĩ Dư Văn Toán cho biết , hiện nay có khoảng 30 quốc gia trên thế giới đã có chiến lược phát triển hydro xanh. Năm 2024, chính phủ cũng đã ban hành chiến lược phát triển hydro xanh. Vì vậy, việc bổ sung các nội dung liên quan đến hydro xanh trong Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) là kịp thời, kỳ vọng cũng sẽ tạo ra các cơ sở pháp lý cho việc phát triển chuỗi cung ứng dịch vụ, chuỗi giá trị năng lượng mới phục vụ mục tiêu không phát ròng vào năm 2050. 

余文算表示,目前,世界上约有30个国家制定了绿氢发展战略。2024年,越南政府也颁布了绿氢发展战略。因此,在《石油法(修正案)》草案中补充有关绿氢的内容是及时的,预计将为发展服务供应链、新能源价值链以服务于2050年净零排放目标创造法律依据。(完)

Nguồn zh.vietnamplus.vn

来源 zh.vietnamplus.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *