Với khoảng 80% doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ưu tiên lựa chọn đầu tư vào các khu công nghiệp có hạ tầng năng lượng xanh. Thống kê này chứng tỏ, hạ tầng khu công nghiệp xanh đang trở thành lợi thế mới trong “cuộc đua” thu hút FDI.
由于约80%的外国直接投资(FDI)企业优先选择拥有绿色能源基础设施的工业园区进行投资,可见绿色工业园区基础设施正成为吸引FDI”竞赛”中的新优势。
Khu công nghiệp xanh trở thành “tấm vé” hút FDI. Ảnh:TTXVN绿色工业园区成为吸引FDI的”通行证”。图自越通社
Với khoảng 80% doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ưu tiên lựa chọn đầu tư vào các khu công nghiệp có hạ tầng năng lượng xanh. Thống kê này chứng tỏ, hạ tầng khu công nghiệp xanh đang trở thành lợi thế mới trong “cuộc đua” thu hút FDI.
越通社河内——由于约80%的外国直接投资(FDI)企业优先选择拥有绿色能源基础设施的工业园区进行投资,可见绿色工业园区基础设施正成为吸引FDI”竞赛”中的新优势。
Theo Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA), từ năm 2025, cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu (CBAM) đã được áp dụng đầy đủ đối với các ngành thép, nhôm, xi măng và điện. Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm thuộc nhóm các mặt hàng này sẽ phải cung cấp các thông tin liên quan đến suất phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm.
据越南能源协会(VEA)称,从2025年起,欧盟的碳边境调节机制(CBAM)已全面适用于钢铁、铝、水泥和电力行业。越南企业出口属于这些商品组的产品时将必须提供有关单位产品温室气体排放强度的相关信息。
Cùng với Cơ chế CBAM, các cam kết RE100 (sáng kiến toàn cầu yêu cầu doanh nghiệp sử dụng 100% năng lượng tái tạo) của những tập đoàn đa quốc gia như: Samsung, Apple, Intel… đang tạo sức ép ngày càng lớn lên chuỗi cung ứng tại các khu công nghiệp. Thực tế cho thấy, khoảng 80% doanh nghiệp FDI ưu tiên lựa chọn các khu công nghiệp có hạ tầng năng lượng xanh.
与CBAM机制并行,像三星、苹果、英特尔等跨国公司的RE100承诺(要求企业使用100%可再生能源的全球倡议)正在给工业园区的供应链带来越来越大的压力。事实表明,约80%的FDI企业优先选择拥有绿色能源基础设施的工业园区。
Hiệp hội Năng lượng Việt Nam dự báo, đến năm 2030, nhu cầu điện năng lượng tái tạo tại các khu công nghiệp có thể chiếm khoảng 25 – 30% tổng phụ tải công nghiệp. Đáng chú ý, doanh nghiệp không chỉ cần điện sạch mà cần các chứng chỉ thuộc tính năng lượng (Energy Attribute Certificates – EACs) để phục vụ báo cáo phát triển bền vững và kiểm kê phát thải.
越南能源协会预测,到2030年,各工业园区的可再生能源电力需求可能占工业总负荷的约25-30%。值得注意的是,企业不仅需要清洁电力,还需要能源属性证书(EACs),以服务于可持续发展报告和排放核算。
Theo ông Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng ban Chính sách và Chiến lược Trung ương, các khu công nghiệp hiện là điểm đến của phần lớn dòng vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể, theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), tính đến cuối năm 2025, cả nước có trên 500 khu công nghiệp được thành lập, với tổng diện tích quy hoạch 145.000 ha. Tỷ lệ lấp đầy trung bình của các khu công nghiệp đang hoạt động đạt trên 75%.
中央政策与战略部副主任阮德显认为,目前,工业园区是大部分外国投资资金的流入地。具体,根据财政部外国投资局的统计数据显示,截至2025年底,全国已成立500多个工业园区,总规划面积14.5万公顷,工业园区平均入驻率超过75%。
Các khu công nghiệp đã và đang khẳng định vai trò là những trung tâm thu hút dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước, chiếm khoảng 35-40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của Việt Nam. Đặc biệt, trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, vốn FDI vào khu công nghiệp chiếm tỷ trọng rất cao, từ 70-80% tổng vốn đăng ký trong lĩnh vực này.
各工业园区不断证明其作为吸引国内外投资资金的中心作用,约占越南新增注册FDI总额的35-40%。特别是,加工制造业领域,各工业园区吸引FDI资金占比非常高,占该领域注册资金总额的70-80%。
Theo ông Trương Khắc Nguyên Minh, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ Phần Prodezi Long An, chủ đầu tư khu công nghiệp Prodezi cho biết: Các FTA thế hệ mới cùng các cơ chế thương mại như Cơ chế CBAM của EU và các chuẩn mực ESG đang đặt ra yêu cầu ngày càng rõ ràng về minh bạch hóa và giảm phát thải khí nhà kính; truy xuất nguồn gốc nguyên vật liệu và chuỗi cung ứng; tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo và áp dụng hạ tầng sản xuất tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên. “Giá trị của khu công nghiệp không nằm ở diện tích đất cho thuê, mà ở khả năng kiến tạo hệ sinh thái giúp nhà đầu tư phát triển bền vững” – ông Trương Khắc Nguyên Minh khẳng định.
Prodezi工业园区投资方——隆安Prodezi股份公司副总经理张克源明表示,新一代自贸协定以及欧盟CBAM机制等贸易机制和管理环境、社会与公司治理(ESG)标准,正对温室气体排放的透明化和减排、原材料和供应链的溯源、提高可再生能源比重以及应用循环、节约资源的生产基础设施提出越来越明确的要求。”工业园区的价值不在于出租的土地面积,而在于其构建生态系统的能力,帮助投资者实现可持续发展”,张克源明强调。
Ông Bạch Ngọc Tùng, Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Xây dựng ACUD Việt Nam; Phó Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng AIST cho rằng: Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, một kỷ nguyên phát triển kinh tế không thể tách rời khỏi trách nhiệm với môi trường và xã hội. Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị đã định hướng rõ ràng về việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, chuyển từ tư duy “thu hút” sang “hợp tác” với các dòng vốn chất lượng cao.
越南ACUD建设技术股份公司经理、AIST建设科学技术研究院副院长白玉松认为,越南正步入一个新的发展阶段,即一个经济发展离不开环境和社会责任的纪元。政治局第50-NQ/TW号决议已为到2030年提高外国投资合作质量和效率指明了方向,从”吸引”思维转向与高质量资金”合作”。
Bối cảnh này đặt ra những thách thức chưa từng có đối với mô hình khu công nghiệp truyền thống của Việt Nam. Trong đó, sự thay đổi trong tiêu chí đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) hàng đầu thế giới hiện nay không chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính mà còn chịu áp lực to lớn từ cổ đông và người tiêu dùng về các cam kết ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị). Họ yêu cầu các địa điểm sản xuất phải có khả năng cung cấp năng lượng tái tạo, hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn tuần hoàn và minh bạch trong quản trị.
在此背景下,越南的传统工业园区模式面临前所未有的挑战。其中,世界领先跨国公司的投资标准发生了变化,其不仅关注财务效益,还承受着来自股东和消费者关于环境、社会和治理(ESG)承诺的巨大压力。他们要求生产地点能够提供可再生能源、符合循环标准的废物处理系统以及透明的治理。
Cùng với đó, rào cản thương mại xanh: Các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như EU, Mỹ đang dựng lên các hàng rào kỹ thuật mới như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon, Quy định chống phá rừng. Nếu các khu công nghiệp tại Việt Nam không chuyển đổi xanh, hàng hóa sản xuất tại đây sẽ mất khả năng cạnh tranh hoặc bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.
与此同时,绿色贸易壁垒:包括欧盟和美国在内的越南主要出口市场正在设置新的技术壁垒,如碳边境调节机制、反毁林法规。若越南的工业园区不进行绿色转型,这里生产的商品将失去竞争力或被排除在全球供应链之外。
“Các quốc gia lân cận như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia đang đẩy mạnh các chính sách ưu đãi cho khu công nghiệp thông minh và xanh để thu hút dòng vốn FDI trong lĩnh vực bán dẫn, xe điện và năng lượng mới. Do đó, công cuộc chuyển mình sang mô hình Khu công nghiệp sinh thái không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành một xu thế tất yếu, một yêu cầu cấp thiết cho sự phát triển bền vững của quốc gia”, ông Bạch Ngọc Tùng cho hay.“
泰国、印度尼西亚、马来西亚等邻国正在大力推行针对智能和绿色工业园区的优惠政策,以吸引半导体、电动汽车和新能源领域的FDI资金。因此,向生态工业园区模式转型不再是一个选择,而已成为必然趋势,是国家可持续发展的迫切要求”,白玉松说道。(完)

